Rùa Pond – Đặc Điểm Tính Cách Hành Vi Nổi Bật

Rùa Pond có đặc điểm như thế nào? hành vi tính cách của giống rùa này ra sao? rùa pond sinh sản như thế nào? cung như thức ăn của giống rùa này như thế nào? mọi thắc mắc về giống rùa pond sẽ được giải đáp trong bài viết này.

Đặc điểm của rùa Pond

Rùa Pond là loài rùa có kích thước trung bình, dài từ 17 đến 23 cm. Rùa trưởng thành có bụng màu hơi vàng, trên đỉnh đầu có các đốm sẫm màu và các đốm hoặc đường màu đen. Con đực trưởng thành có xu hướng có vỏ phẳng hơn con cái, cũng như đuôi dày hơn, cằm và cổ màu vàng hoặc trắng. Rùa cái có mai cao hơn, hình vòm, đầu nhỏ hơn, bụng phẳng hơn, dấu cằm và cổ họng sẫm màu hơn.

Rất khó để xác định giới tính ở rùa con, nhưng các đặc điểm thường bắt đầu thể hiện sau khi chúng trưởng thành về giới tính, khi chiều dài mai của chúng khoảng 10 cm. Mặc dù có sự tách biệt về gen, nhưng hai loài rùa pond này dường như có những đặc điểm lịch sử sống tương tự nhau và chịu những mối đe dọa tương tự.

Hành vi của rùa pond

Rùa Pond được tìm thấy ở các vùng nước thường xuyên và không liên tục của sông, lạch, ao hồ nhỏ, đầm lầy, mương thủy lợi và hồ chứa. Rùa phơi mình trên cạn hoặc gần nước trên khúc gỗ, cành cây hoặc tảng đá. Môi trường sống trên cạn cũng quan trọng như môi trường sống dưới nước đối với loài rùa này.

Trong một số quần thể, con đực có thể được tìm thấy trên đất liền trong khoảng thời gian mười tháng hàng năm, trong khi con cái có thể được tìm thấy trên đất liền trong tất cả các tháng trong năm do làm tổ và trú đông (một hình thức ngủ đông).

Rùa Pond

Khu vực rùa pond sinh sống

Trong lịch sử, phạm vi của rùa pond phía tây đến British Columbia, Canada, kéo dài đến tận phía nam Baja California. Ngày nay phạm vi của nó đã thu hẹp đáng kể; loài động vật này hiện được tìm thấy nguyên bản ở miền nam Washington, Oregon và California và đã được đưa vào Nevada. Rùa pond có thể được chia thành hai phần khác biệt về mặt di truyền trong phạm vi của nó ở California.

Rùa pond tây bắc là những loài được tìm thấy ở phía bắc San Francisco, bao gồm các quần thể được tìm thấy ở Thung lũng Trung tâm và xa hơn về phía bắc. Rùa pond phía tây nam là những loài được tìm thấy ở phía nam San Francisco trên bờ biển miền trung, bao gồm các quần thể xa về phía nam như sông Mojave và Mexico. Có một khu vực phân hóa rộng lớn (các quần thể thể hiện đặc điểm của cả hai loài) nơi chúng chồng lên nhau ở Trung California.

Các nghiên cứu cho thấy rằng rùa pond có thể được tìm thấy trú đông hơn 450 m từ môi trường sống dưới nước, cũng như di cư hơn 1 km. Ngoài ra còn có bằng chứng về độ trung thực của địa điểm, nơi nhiều rùa trở lại địa điểm giống như năm trước để mùa đông.

Sinh sản

Giao phối thường xảy ra vào cuối tháng 4 hoặc đầu tháng 5 nhưng có thể diễn ra quanh năm. Con cái di cư từ môi trường sống dưới nước lên vùng cao để làm tổ và ký gửi từ một đến 13 quả trứng. Con cái có thể đẻ nhiều hơn một lứa mỗi năm, nhưng chúng thường đẻ trứng vào khoảng tháng 5 đến tháng 8.

Rùa pond thường làm tổ trên các bờ cát gần nước hoặc trên các cánh đồng có nắng cách mặt nước đến vài trăm mét.

Chu kỳ sống

Ấu trùng ở trong ổ sau khi nở cho đến mùa xuân, theo một mô hình tương tự như quá trình trú đông của con trưởng thành. Trung bình chúng xuống nước sau 48 ngày, mất đến một tuần để di chuyển từ nơi làm tổ sang môi trường sống dưới nước.

Ăn đông và di tích trong đó rùa đi vào trạng thái ngủ đông trong thời gian nóng và lạnh để bảo tồn năng lượngđều là những hoạt động quan trọng. Rùa pond được cho là sống lâu, vì độ tuổi tối thiểu của một cá thể bị bắt là 42 tuổi.

Xem Ngay: Tuổi thọ của các loài rùa?

Thức ăn

Rùa là loài ăn kiêng chung chung và có tính cơ hội cao; chúng sẽ tiêu thụ hầu hết mọi thứ mà chúng có thể bắt được và chế ngự. Rùa Pond nuôi riêng và kiếm ăn trong nước. Rùa không thể nuốt không khí, vì vậy tất cả thức ăn của chúng phải được nuốt trong nước.

Các mối đe dọa

Cả hai loài đều phải đối mặt với những mối đe dọa tương tự, chủ yếu do môi trường sống bị thay đổi và bị phá hủy. Việc xây dựng đập dọc theo Bờ Tây làm đảo lộn vòng đời tự nhiên của chúng, làm xáo trộn các dòng chảy của sông và rút cạn các vùng đất ngập nước tự nhiên để phát triển đô thị và nông nghiệp.

Các bệnh như bệnh loét mai và bệnh đường hô hấp trên đe dọa làm giảm số lượng quần thể của cả hai loài, đặc biệt là do sự xâm nhập của các loài xâm lấn như trượt tai đỏ, ễnh ương và cá vược miệng lớn, tạo ra sự cạnh tranh về tài nguyên và con mồi đối với rùa.

Các loài thực vật xâm lấn như cỏ hoàng yến sậy cũng có thể ngăn cản con cái tìm đến nơi làm tổ. Sự xáo trộn của con người cũng vẫn là một mối đe dọa lớn, từ sự xáo trộn của việc phơi rùa cho đến việc người dân thực sự bắn rùa để thể thao.

Ngoài ra, những con rùa này chưa bao giờ hồi phục hoàn toàn sau thời kỳ mà con người đã thu hoạch quá mức chúng cho ngành công nghiệp nhà hàng ở San Francisco vào đầu thế kỷ 20. Và những con rùa này đặc biệt nhạy cảm với tác hại từ các chất ô nhiễm hóa học còn sót lại từ các ngành công nghiệp khai thác và nông nghiệp, vì chế độ ăn uống rộng rãi và tuổi thọ cao của chúng có thể tích tụ một lượng lớn chất gây ô nhiễm theo thời gian.

Mặc dù rùa pond được tìm thấy ở khắp các Bờ biển phía Tây, cả hai loài đều bị giảm tổng thể về quy mô dân số của chúng, với phần lớn sự mất mát này không thể phục hồi. Trong lịch sử, phạm vi của chúng vươn tới British Columbia, Canada, nhưng ngày nay không có quần thể người Canada nào tồn tại. Quần thể đông đảo nhất của loài rùa này sống trong lưu vực sông Trinity, nơi phần lớn các nghiên cứu gần đây đã diễn ra. Tổng dân số ước tính là từ 10.000 đến 1 triệu cá thể rùa (của cả hai loài).

 

Viết Bình Luận

TÁO Y TẾ CHIA SẼ KINH NGHIỆM HAY